SNKRVN

Tin tức, Kiến thức, SNEAKERS

Câu chuyện về Nike HyperAdapt 1.0 – Đôi giày tự động đầu tiên của nhân loại

nike_opener_on-2
và Mark Parker trên bìa của tạp chí Wired. Ảnh: Art Streiber

Đó là năm 1988, Tinker Hatfield đang ngồi cùng Mark Parker, một nhà thiết kế trẻ khác từ tại buổi gặp mặt cùng đạo diễn Robert Zemeckis. Họ vừa cùng bàn về phần sau của bộ phim khoa học viễn tưởng cực kỳ thành công ba năm trước – Back to the Future. Hatfield và Parker lãnh trách nhiệm tưởng tượng ra một đôi giày tương lai cho bối cảnh năm 2015 của bộ phim. Một trong những ý tưởng được đưa ra tại buổi họp là giày bay dùng lực đẩy từ trường, nhưng Hatfield cảm thấy như vậy thì hơi giống The Jetsons (Một bộ phim về một gia đình thời tương lai của Hanna-Barbera, công ty làm phim The Flinstones). Vậy là trong khi vò đầu nát óc trên bàn vẽ của mình tại văn phòng ở Beaverton, Oregon, tự nhủ: “Đôi giày cần phải có sức sống“.

Là một vận động viên nhảy sào và một sinh viên ngành kiến trúc ở đại học Oregon, Hatfield cực kỳ chú trọng vào tính thiết thực. Ông chỉ đơn giản thấy rằng một vận động viên, kể cả vài chục năm sau ở tương lai, cũng không cần một đôi giày có thể nâng mình lên khỏi mặt đất. Cả ông cùng Parker đều đối xử với công việc này như là một một dự án thực. Tinker kể “Nó giống như ai đó bảo tôi hãy sáng tạo ra một đôi giày, chỉ là tôi có 30 năm để hoàn thành”. Và đó là khi ý tưởng này chợt đến với ông: “Sẽ như thế nào nếu có một đôi giày gần như sống dậy ngay khi cho chân vào? Nó sẽ tự ôm theo hình dạng bàn chân đồng thời phát sáng sau khi được kích hoạt. Có phải là quá tuyệt không?”

Thay vì chỉ phác thảo đôi giày, Hatfield vẽ hẳn vài khung truyện về cảnh Marty McFly với đôi giày. Anh ta xỏ giày vào, cúi xuống như là một bản năng thì đôi giày sáng lên, tự động bó vào chân Marty (Thậm chí câu “Power laces!” của Mcfly trong phim cũng được Hatfield vẽ ra ngay lúc đó). Khung cảnh đó cuối cùng đã xuất hiện trên phim còn nhà sản xuất cũng thu về một khoản kếch xù. Kể từ đó, đôi giày Mag trong phim trở thành một biểu tượng tương lai của giày dép nhưng đồng thời cũng là một thách thức cho công nghệ lúc bấy giờ. Theo thời gian, Mag đạt được một lượng lớn fan hâm mộ, lớn đến mức họ hẳn một chiến dịch ký tên online để nài nỉ sản xuất một phiên bản đại trà. (Vào năm 2011, đã bán đấu giá 1500 đôi Mag để gây quỹ cho tổ chức nghiên cứu bệnh Parkinson của Michael J. Fox (diễn viên đóng Marty McFly). Cuộc đấu giá cực kỳ thành công với 5,695,190 USD quyên góp được trong 10 ngày.  Tuy vậy, bản Mag 2011 vẫn chỉ là một đôi giày thường chứ không có khả năng tự buộc dây như trong phim.)

ff_nike_photo_essay-6-1024x683
Phiên bản Nike Mag 2011 được trưng trong tủ kính ở phòng làm việc của . Ảnh: Art Streiber

Trong khi đó, Hatfield, Parker và một đội ngũ các nhà thiết kế, kỹ sư và phân tích viên không hề bỏ qua những lời kêu gọi của những người hâm mộ. Sau 28 năm lên ý tưởng và 11 năm nghiên cứu và phát triển, sau vô số lần thất bại, trễ deadline, sự hoài nghi trong nội bộ và một lượng không đếm xuể các vật mẫu, thiết kế hỏng, cuối cùng thì đôi giày tự động lên dây của Nike đang chuẩn bị được bán ra trước mùa Noel năm nay. Nike và Hatfield gọi công nghệ này là “adaptive fit” hay tạm dịch là “công nghệ ôm chân tự động (hay tự thích nghi)“. Sản phẩm lần này của họ là với cảm biến, pin, động cơ và hệ thống Flywire trên mỗi đôi giày. Hyper Adapt tự siết chân theo một thuật toán tính áp lực lên bàn chân người đi. Mỗi khi có người xỏ chân vào, chếc giày sẽ tự siết lại cho đến khi nó cảm thấy vừa đủ. Hai nút bấm “cộng” và “trừ” gần lưỡi gà giúp bạn tinh chỉnh độ ôm theo ý muốn. Một đôi giày công nghệ cao như vậy, với giá thành (có thể) cao ngất ngưởng chắc chắn sẽ bán chạy ở một đất nước mà giành hàng triệu đô cho sneaker một năm. Tinker Hatfield, người hiện giờ là phó giám đốc sáng tạo của Nike, nhà thiết kế giày nổi tiếng nhất; một con người biểu tượng cho cả doanh nghiệp. Việc ông chỉ đạo đội ngũ trên cũng gần như là một việc đương nhiên. Trong khi không ai biết Nike đã tốn bao nhiêu tiền cho việc phát triển đôi giày này thì Hatfield vẫn tin tưởng rằng là bước đệm cho một cuộc cách mạng trong giày dép tự thích nghi và nó cực kỳ đáng đồng tiền bát gạo. “Chúng ta đang nói về một dự án có thể nói là khó khăn nhất trong lịch sự của giày dép,” Hatfield nói. “Tôi thích thú với dự án này hơn bất cứ việc nào tôi từng làm.”

ff_nike-hatfield_office
Phòng làm việc của Hatfield. Ảnh: Art Streiber

 Tòa nhà Mia Hamm của Nike nhìn từ bên ngoài giống như một trụ sở bóng bẩy của một công ty dược phẩm tỷ đô nào đó. Tất cả các công trình quan trọng tại Nike đều được đặt tên theo những siêu sao của họ như là John McEnroe, Micheal Jordan, Tiger Woords, Bo Jackson, v.v. Đứng cạnh đó là Mia Hamm, một tòa nhà chỉ cao có 4 tầng so với mặt đất nhưng lại bao gồm một hệ thống hầm ngầm dày đặc dạng như lô cốt, trụ sở nghiên cứu quân sự bí mật hay hang ổ của các trùm tội phạm. Phần lớn các nhân viên đều không có quyền bén mảng đến khu vực này vì nó là nơi Nike đặt những phòng nghiên cứu quan trọng nhất, những xưởng sản xuất mẫu vật, những phòng kiểm tra vật liệu, những phòng thí nghiệm cơ sinh học và xưởng thử nghiệm ý tưởng mà công ty ưu ái gọi là Innovation Kitchen hay Nhà Bếp Cách Tân theo nguồn gốc ra đời của Nike. (Năm 1970, huấn luyện viên trưởng của đội điền kinh đại học Oregon, Bill Bowerman đã thử đổ urethane nóng chảy vào khuôn bánh waffle để thử làm đế giày tốt hơn cho các vận động viên của  mình. Một năm sau đó, công ty bán giày của ông và Phil Knight đổi tên thành Nike Inc.) Ngay phía trên bàn tiếp tân của tòa nhà là một dòng chữ “Luôn luôn lắng nghe các vận động viên” làm từ hàng trăm que nhựa cao đến 4 tầng. Câu nói này lấy từ chính Phil Knight, cựu CEO của công ty. Được đặt ở nơi thấy rõ nhất của tòa nhà, dòng chữ như được dành cho tất cả những nhà thiết kế nơi đây.

ff_nike-voices_atheletes-929x697
“Luôn luôn lắng nghe các vận động viên”. Thứ đầu tiên đập vào mắt những ai ghé thăm tòa nhà Mia Hamm. Ảnh: Art Streiber

Phòng làm việc của Hatfield tại Nhà Bếp tái hiện lại những gì ông đã làm được ở Nike: Một tấm hình treo tường khổng lồ của Micheal Jordan cùng 31 đôi Air Jordan được treo trên một sợi dây cạnh cửa sổ. Xung quanh căn phòng là những bản vẽ kỳ quái và đủ loại vật mẫu lạ lùng. Những bàn chân nhựa ở khắp mọi nơi làm bạn cảm thấy như đang đến một phòng khám chân. Cạnh nơi làm việc của các thiết kế viên là một khu vực lớn đầy những máy may cao cấp, khuôn đúc khổng lồ cùng những bộ máy cắt laser tối tân. Quanh đó là những cuộn chỉ lớn ngang quả bóng bầu dục và những ngăn tủ cỡ bự chứa các mẫu vải tổng hợp đủ loại. Có những máy khâu có khả năng khâu vào cả sợi carbon. Đây chính là nơi mà đội ngũ concept làm công việc của họ: biến những mẫu phác thảo thành mẫu vật hay biến những bản thiết kế từ 2-D sang 3-D.

nike-hyperadapt-snkrvn
Ảnh: Art Streiber

Để tiếp tục câu truyện của thì ta phải nhắc đến , người làm việc ở chiếc bàn ngay bên trái của Hatfield. Beers là một nhà sáng chế gạo cội của công ty và đồng thời cũng là kỹ sư phụ trách tạo ra động cơ E.A.R.L (Electric Adaptive Reactive Lacing) – trái tim của . Được Nike thuê hồi năm 2004 để phát triển bộ đệm Air mới, không lâu sau đó cô đã được biết đến nhờ tài năng và sự bền bỉ của mình. Chưa được một năm sau, Hatfield đã tận tay gửi gắm dự án đặc biệt này cho cô. Trong suốt 17 năm kể từ buổi họp mặt cho Back to the Future, Hatfield và Parker đã đặt rất nhiều tâm trí cho lối đi mới của giày thể thao; và họ nghĩ ra ý tưởng về những sản phẩm tự động thích nghi. Về căn bản, đó là những đôi giày có khả năng cảm nhận mỗi khi có người đi vào và tự kích hoạt mô-tơ để siết hoặc dãn thân giày

Nike HyperAdapt 1.0
Ảnh: Dan Saelinger

Những gì Hatfield muốn làm luôn xoay quanh việc tăng cường khả năng của các vận động viên cũng như giữ an toàn cho cơ thể của họ. “Hầu hết những vận động viên chúng tôi quan sát và làm việc cùng, bàn chân của họ đều đã biến dị đến một mức độ. Tôi tin tưởng rằng, và khoa học cũng đã chứng minh được nếu bàn chân của bạn có vấn đề, nó sẽ gây ra một chuỗi phản ứng khiến cho cả cơ thể bạn yếu đi theo“. “Nếu bạn phải chơi liên tục trong ba tiếng đồng hồ, chỉ có khoảng 1 tiếng trong đó bạn cần đôi giày phải ôm chân thật chặt. Những thời điểm khác như ném phạt, đợi bóng vào sân hay ngồi ngoài sân, bạn nên nới đôi giày ra một chút.”. Đương nhiên, những vận động viên NBA hầu hết không làm thế. Hatfield nói thêm: “Sau một thời gian dài, họ vẫn luôn tự hành hạ bàn chân mình, khiến cho sức khỏe lẫn cơ thể của họ tự yếu đi.” Đây là một vấn đề về hiệu năng (performance) cần phải giải quyết bằng kỹ thuật và thiết kế. Cho đến khoảng 2005, ông và Parker tin rằng công nghệ đã đủ phát triển để biến dự án Nike Mag thành hiện thực.

ff_nike_photo_essay-1-1024x683
Ride Lab – Nơi những kỹ sư thử nghiệm Air và những công nghệ đệm khác của Nike. Ảnh: Art Streiber

được gọi đến bởi vị bậc thầy của Nike, cô đã rất háo hức nắm quyền chủ đạo của dự án trong khi Hatfield lùi về phía sau. Đây cũng là cách mà Nike giải quyết hầu hết các dự án của họ: Những kỹ sư sẽ phụ trách mảng kỹ thuật trước, sau đó mới đến lượt các thiết kế viên. Beers làm việc không có hạn định và không có ngân quỹ. Cô bắt đầu công việc bằng cách tìm đến khu lưu trữ khổng lồ của Nike và lấy được bản Nike Mag sử dụng trong phim. Lúc bộ phim được quay, đội ngũ kỹ xảo sử dụng một hệ thống chỉ gắn liền với chiếc giày. Dưới hiệu lệnh, vài ba người phải kéo cùng lúc để tạo hiệu ứng tự siết dây cho phim. Bộ đèn phát quang của đôi giày cũng cực kỳ ngốn pin, đòi hỏi Micheal J.Fox phải mang theo một bộ pin to cỡ cái radio ở sau túi.

mcfly2
Micheal J.Fox cùng đôi Mag trong Back to the Future II. Ảnh: Marcus Troy

Một cảm giác lạnh ngắt chạy qua người cô lúc đó khi nghĩ đến việc làm sao để tích hợp một bộ pin đủ mạnh vào một đôi giày nhẹ nhàng để đi lại hàng ngày. “Họ muốn tôi cho nó (bộ pin) vào đôi giày á? Và thêm cả hệ thống lên dây? Họ có điên không?“. Cô gọi cho tất cả công ty chế tạo motor cỡ nhỏ mà cô biết. Cô liên lạc với cả những người làm mô hình tàu hỏa cũng như thiết kế dụng cụ y tế. Cô còn đáp chuyến bay đến châu Á, châu Âu để dự những hội nghị trong ngành cũng như các hội chợ liên quan. Cô thậm chí đã trở thành một chuyên gia về các loại pin chỉ vì việc này. Cuối cùng, dưới sự trợ giúp của một kỹ sư cơ khí, cô có được thành phẩm là một hệ thống cáp khá thô sơ. Sau đó cô nhờ đến những nhân viên của Nhà Bếp may một đôi giày để cô có thể tích hợp thử thiết bị của mình. Kế tiếp là một chuỗi những thử nghiệm cho đến khi cô đạt được một mẫu vật gọi là tạm đạt yêu cầu.

Mất khoảng 2 năm để Beers có thể đưa được nguyên mẫu này ra mắt Hatfield và Parker. Nguyên mẫu này cũng có vài khuyết điểm “nho nhỏ“. Đôi giày lúc đó cực kỳ lớn, cứng và không hề thực tiễn tí nào; chúng cứ như ai coi phim Back to the Future phần 2 và vẽ lại một bản phác thảo thô kệch vậy. Còn nữa, đôi giày cần phải được cắm điện liên tục để có thể sử dụng, không có một bộ pin nào có thể chịu nổi chúng. Đồng thời động cơ còn ồn và nặng kinh khủng. Beers nói thêm: “Chiếc giày siết lại …. cực kỳ chậm. Và nó mở ra cũng … chậm cực kỳ. Nhưng ít nhất chúng tôi đã chứng minh được là dự án này không phải bất khả thi” (Nhờ đó mà Beers có một bằng sáng chế của U.S.A số 8,046,937 về “một đôi giày với hệ thống lên dây tự động”).

Nike HyperAdapt 1.0
Ảnh: Dan Saelinger

Phải mất thêm 5 năm để sự ra đời của những công nghệ mới giúp cho công việc của Beers có một bước tiến rõ rệt. Vào cuối năm 2013, Beers và những cộng sự tìm ra một loại motor tốc độ cao siêu nhẹ với độ bền mà chính nhà sản xuất ra nó cũng không tin được. Đội ngũ của cũng phải tinh chỉnh lại một chút để motor kết hợp tốt với hệ thống cáp của đôi giày. Pic sạc Li-Po(Lithium ion Polymer) được sử dụng để cung cấp điện cho cả motor và đèn LED ở gót. Mỗi bộ pin có thể dùng được trong hai tuần cho mỗi lần sạc và mất 3 tiếng để sạc đầy. Tiffany cũng thử nghiệm rất nhiều loại sợi như Kevlar và các vật liệu chuyên dụng khác. Cuối cùng cô lựa chọn dây câu loại 200-lbs-test có hiệu năng tốt nhất giữa sức kéo và độ ma sát.

ff_nike-meshes-929x697
Những loại vật liệu phong phú trong “Nhà Bếp” của Nike. Ảnh: Art Streiber

Dần dần, dự án càng lúc càng khả quan khiến cho Hatfield cũng tự tin rằng ngày dự án thành công đang tới rất gần. Tháng 2 năm 2014, khi ông tham dự sự kiện của Nike tại NBA All-Star, Hatfield đã công bố với báo giới rằng công ty sẽ kịp thời ra mắt đôi giày ngay năm sau. Đúng vào năm 2015, năm của bối cảnh trong phần hai của bộ phim! Tít báo được đưa lên ở khắp mọi nơi. Trong khi đó, Beers lại như bị một cú shock khi mà chính cô biết tiến trình hiện tại của nhóm không đủ để hoàn thành đôi giày chỉ trong một năm. Kể cả khi Hatfield khẳng định rằng ông không muốn làm khó mọi người nhưng nó vẫn là một trải nghiệm làm cô khó thở. Thay vì rối lên, cô trưng dụng nguyên một khúc của Nhà Bếp, dựng lên 4 tấm xốp, mang theo đội ngũ 6 người của mình vào và bảo tất cả mọi người không được đến gần. Mọi người gọi nó là cái hố đen, một hội kín tuyệt mật bên trong một hội kín tuyệt mật nữa. Trong suốt 6 ngày, 12 tiếng một ngày, họ dồn hết sức lực vào công việc. Beers cũng đã phải mượn những công nghệ từ hai sản phẩm khác của Nike để hoàn thành nhiệm vụ. Một trong đó là đôi Jordan XX8, một đôi giày khá bự với đế de-couple (hai phần gót và mũi rời nhau) và một khoảng trống lớn ở giữa. Tiffany nhận thấy cô hoàn toàn có thể đặt động cơ siết dây ở đó mà không ảnh hưởng đến hình dáng của đôi giày. Sau đó cô mượn tiếp một phát kiến mới từ năm 2014 là Flyweave, một phương pháp sản xuất thân giày bằng cách dệt những sợi tổng hợp mềm dẻo lại với nhau. Không những cáp của motor có thể dễ dàng đặt vào giữa lớp vải dệt mà tính chất mềm mại của các sợi cũng làm giảm độ ma sát giúp tăng độ bền cho động cơ. “Mọi mảnh ghép gần như tới cùng một lúc“, cô nói. Cuối cùng thì công cuộc thiết kế cũng có thể bắt đầu.

ff_nike-beers_winnebago
Tiffany trong một khu vực họp mặt của “Nhà Bếp”. Cô đã phải trở thành một chuyên về motor và pin để hoàn thành đôi . Ảnh: Art Streiber

Cách làm việc của Hatfield theo như ông nói thì là những bài tập tự tưởng tượng hoặc đơn giản là ông sẽ vẽ bất cứ cái gì ông nghĩ ra được. Ông có thể vẽ liên tục nhiều trang giấy tràn đầy những hình hoạt họa dị hợm, kinh dị cũng như một vài khung hình truyện tranh ông nghĩ ra. Trong giai đoạn đầu ông gần như không thể bỏ được thiết kế gốc của Nike Mag ra khỏi đầu, việc đó khó chịu với ông đến mức khiến ông phải xé bỏ những phác thảo đầu tiên một cách chán chường. “Tôi phải tự nhủ rằng phải quên cái thiết kế đó đi. Nó đã là quá khứ rồi“, ông nói. Mark Parker cũng giúp đỡ Hatfield một phần không nhỏ. Parker là một trong số ít những CEO trong Fortune 200 sẵn sàng sắn áo cho những việc mà ông từng làm: thiết kế. Ông cũng giúp Hatfield loại bỏ được hình ảnh Mag ra khỏi đầu bằng cách đề xuất đừng làm một đôi giày cao cổ. Trên bản nháp ông đưa cho Tinker còn có viết hoa một câu: PHẢI ĐƯA “POWER LACE” LÊN THÀNH NHÂN VẬT CHÍNH!

ff_nike-parker_office
Phòng làm việc của CEO Nike – Mark Parker. Ảnh: Art Streiber
2410_cover_2-768x1024
Ảnh bìa tạp chí Wired do chính tay Tinker Hatfield vẽ. Ảnh: Dan Saelinger

Hatfield quay lại bàn của mình, vẽ ra hai con robot W.A.L.L-E. và E.V.E, một con bướm phát quang ông thấy trong bộ sưu tập của Parker cùng chiếc Converse Chuck Taylor. “Chuck Taylor có một logo rất ấn tượng ở một mặt nhưng phần còn lại thì cực kỳ đơn giản“, ông nói. “Tôi cũng muốn phiên bản đầu tiên của HyperAdapt sẽ giống như Chuck Taylor lúc mới đầu. Một ngày nào đó chúng ta nhìn lại sẽ thấy nó thành hàng cổ như Chuck hiện tại vậy.” Những suy nghĩ ban đầu đó giúp tạo hình cho thiết kế sau cùng của HyperAdapt: Một chiếc giày đơn màu với đen, trắng hoặc xám và trên lưỡi gà trông như là có dây giày nhưng thực ra lại không hẳn là vậy. Chúng là những miếng băng từ nylon mà bạn có thể thấy được chúng co và dãn cùng với thân giày. Những sợi “dây giày” này là một dấu hiệu thị giác giúp bạn nhận ra chiếc giày đang bó như thế nào. Hai bên thân giày là những họa tiết xanh lá – xanh dương (cùng màu với con bướm phát quang) bao quanh những sợi cáp. Thêm vào đó là bộ đèn đặt ở dưới đế, lấy cảm hứng từ E.V.E trong phim Wall-E, sẽ sáng lên trong 6 giây sau khi động cơ được khởi động. Tất cả tạo thành sự thiết thực trong thiết kế của đôi giày. Hatfield và Parker tin rằng điều này sẽ khiến mọi người hứng thú về đôi giày.

Cứ một thời gian, những người đứng đầu của Nike tụ họp tại Nhà Bếp Cách Tân để góp mặt trong một buổi show-and-tell (một kiểu thuyết trình) cỡ lớn. Những nhà thiết kế, kỹ sư sẽ mang đến mẫu vật từ dự án của họ đến cho những tay lớn nhận xét. Vào tháng 1 năm 2015, nhóm phát triển HyperAdapt mang sản phẩm mới nhất của họ đến một phòng họp của Nhà Bếp. Thay chỗ cho Beers, người được một kỳ nghỉ sau chuỗi làm việc bất tận trước đó, là Eric Avar – người thiết kế dòng giày Kobe đồng thời cũng là một nhà thiết kế tiêu biểu của Nike. Ngay khi Avar vừa kết thúc bài phát biểu thì tất cả mọi người đều cố gắng mổ xẻ dự án dưới mọi cách có thể. Họ đặt câu hỏi cho hầu như tất cả mọi thứ. Họ không tin là đôi giày có bất cứ lợi ích nào cho vận động viên. Cả hội đồng thậm chí còn không cho rằng dự án nên được tiếp tục. Sự ngờ vực không chỉ tồn tại trong riêng nội bộ Nike mà còn vượt xa hơn. “Làm màu” là một từ được mọi người dùng khá nhiều, và Reebok Pump cũng được ám chỉ đến không dưới một lần. “Tôi nghĩ đến nó như là một chiêu trò PR, chứ không phải là một sáng tạo gì hết“, Peter Rueegger, một chuyên viên tư vấn trong ngành cho biết. Ngoài ra còn có Mike Friton, một cựu thiết kế viên cho Nike, người từng làm việc chung với Beers khi dự án còn mới khởi động hồi năm 2007. Anh ta cho rằng dự án này hoàn toàn đi ngược lại với xu hướng bảo vệ môi trường.

Nike HyperAdapt 1.0
Ảnh: Dan Saelinger

Ngay khi trở lại từ kỳ nghỉ, Beers vẫn tiếp tục bình tĩnh đối đầu với các chỉ trích. Những người trong hội thảo muốn nhóm của cô tìm cách phát triển những tính năng cơ bản của HyperAdapt: trợ giúp và tăng cường khả năng của các vận động viên. “Tôi chỉ đơn giản nghĩ là: OK! Chúng tôi sẽ phải làm thật nhiều sản phẩm mẫu hơn thôi,” cô nói. “Chúng tôi cần nhiều người thử nghiệm hơn để có nhiều số liệu hơn. Chỉ có bằng chứng mới dập tắt được sự nghi ngờ.” Tại phòng nghiên cứu thể thao của Nike, cô cho chạy rất nhiều các thử nghiệm để lấy dữ liệu về cảm nhận của người đi. Cô cho những vận động viên thử nghiệm HyperAdapt thực hiện những bài tập Crossfit và sau đó khảo sát về cảm giác của họ sau khi đi đôi giày. Không những thế, cô còn đưa giày cho những người hay chạy bộ hay chơi bóng rổ để nhận thêm ý kiến phản hồi từ nhiều nguồn hơn. Với những dữ liệu này, Beers trang bị thêm bộ đệm dày hơn cũng như tinh chỉnh lại hệ thống cáp để thân giày ôm nhiều vào giữa bàn chân hơn là mũi chân. Cứ như vậy, những người thử nghiệm cho biết họ thấy bàn chân đỡ đau hơn sau các buổi tập nặng nhọc. Sáu tháng sau đó, cô trình bày bản mẫu cải tiến của HyperAdapt lên hội đồng một lần nữa. Lần này thì những hoài nghi đã được đập tan. Lúc này sản phẩm đã sẵn sàng để được ra mắt vào cuối năm 2016.

nike_hyperadapt-profile_angle-1024x1024
Ảnh: Dan Saelinger

Đó là một ngày cuối tháng bảy tại Beaverton, và Beers đưa tôi một phiên bản gần hoàn thiện của đôi giày. Cô vẫn còn đang phải thử nghiệm và tinh chỉnh vài điểm cuối cùng cho chúng. Thậm chí cô còn mang chúng mỗi ngày. “Tôi cần phải biết mọi vấn đề mà khách hàng sẽ gặp phải. Tôi muốn biết trước mọi thứ để có thể cải tiến, hoàn thiện hơn nữa.” Đôi giày của cô không mang logo của Nike để tránh người ngoài biết rằng cô đang mang một đôi giày tuyệt mật của hãng.

Trong khi đó, tôi vẫn còn đang ngồi ngó đôi giày trước mặt mình vì chưa biết phải làm sao với nó. Tiffany nói “Anh chỉ cần xỏ chân vào thôi.” Ngay khi tôi làm vậy, đôi giày phát ra một tiếng rè nhỏ như tiếng động cơ xe đồ chơi vậy, loại tiếng mà bạn làm khi nhảy điệu robot. Thứ tiếng đó thoải mái một cách lạ lùng khi mà nó diễn ra cùng lúc với việc đôi giày nhẹ nhàng ôm lại bàn chân tôi. Tôi cũng để ý là chiếc bên phải không siết chặt như bên còn lại. Tôi vừa trẹo chân do một tai nạn ngốc nghếch nên bàn chân phải vẫn còn bị sưng. Chiếc giày tự nhận biết được điều đó và chỉ ôm vừa đủ cho cả hai bên chân.

nike_hyperadapt-back-1024x1024
Ảnh: Dan Saelinger

Tên đầy đủ của đôi giày là , con số đằng sau chỉ đến đặc tính luôn thay đổi, luôn cập nhật của Sillicon Valley. Điều này ám chỉ đây sẽ là phiên bản đầu tiên trong một dòng sản phẩm dài hơi của Nike. Các nhân viên ở Nhà Bếp đã và đang bắt tay vào thiết kế những đôi giày có khả năng tự động siết, thả dây theo thời gian thực. Giả dụ bàn chân của bạn có sưng lên thì đôi giày sẽ tự điều chỉnh thay vì bạn phải bấm nút. Thậm chí Hatfield còn tiết lộ Nike còn đang tiến hành phát triển các chức năng tự động thích nghi khác như là độ thoáng(breathability) và lượng đệm(cushioning). Ông cũng chỉ dừng lại ở đó và nói rằng ông đang hướng đến một đôi giày với khả năng tự động điều chỉnh của một chiếc xe tự lái.

 

ff_nike-draw_shoes-1024x683
“Cuối cùng thì chúng ta vẫn chỉ là những đứa trẻ thích vẽ giày”, tấm poster dán trên một phòng làm việc ở “The Kitchen”. Ảnh: Dan Saelinger

Ở một trong những thử nghiệm cuối cùng của Tiffany, cô sắp xếp một trận bóng rổ ở một trung tâm thể thao của Nike. Một vài vận động viên được trang bị đôi HyperAdapt còn cô ngồi ngoài sân quan sát như một nhà nhân chủng học, ghi chép lại phản ứng của họ. Ngay khi những vận động viên trên xỏ chân vào và chuẩn bị cúi xuống thắt dây, họ cũng bị hẫng khi thấy đôi giày tự bám vào chân mình. Tiến vào trong trận đấu, một cầu thủ sau khi chuyền bóng vào sân, cúi xuống nhấn nút siết chặt giày trước khi lên tấn công. Một vận động viên khác thì bay nhảy rất sung, ghi điểm ở mọi vị trí – đột, ném, úp rổ. Càng về sau anh ta càng phấn khởi, mỗi khi ghi điểm xong anh ta lại quay về phía Tiffany và hét lên “Nhờ đôi giày đó!” Beer thì vẫn đang cặm cụi ghi chú trên cuốn tập của cô và tiếp tục quan sát trận đấu…

Bài viết được dịch từ Wired bởi SNKRVN.

Thông tin ra mắt: Nike HyperAdapt 1.0 sẽ được bán ra vào ngày 28 tháng 11 sắp tới cho các thành viên của Nike Plus.

Bình luận

Instagram

  • Vậy là Neymar chính thức về đội Puma rồi nha.

Hy vọng ra gì đó hay ho để mọi người yêu thích 💪
  • Hôm nay 5km pace 4:39 lập Personal Best.
Vui quá!
  • CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT!

Logo của SNKRVN được lấy cảm hứng từ mã Morse, ICON LOGO "S" đại diện cho Sneakers được cách điệu từ chính chữ C - đại diện cho từ CONNECT (-.-.) trong mã Morse. , đây được xem là một trong những mã được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành, lĩnh vực trên thế giới từ khi được phát minh ra đến nay. 
 
Từ cảm hứng mã Morse, SNKRVN đã tạo ra một Icon Logo mang tính đại diện cho cộng đồng sneakers tại Việt Nam, một cộng đồng với niềm đam mê về giày, thời trang đường phố, hip-hop,... một nền văn hoá sát mặt đất với những cách giao tiếp sáng tạo, khác biệt so với nhiều cộng đồng khác đang tồn tại. 
 
THE UNIVERSE OF SNEAKERS 2020 (#US2020) với Icon logo "S"sẽ biến hoá thành một chiếc phi thuyền, đây sẽ là trạm kết nối, tạo ra những mật mã riêng để giao tiếp cùng những thành viên trong cộng đồng Việt Nam. 
 
Chiếc phi thuyền #US20 sẽ có những khoang đặc biệt trên tàu, đại diện cho từng nhóm cộng đồng đang tạo nên nền văn hoá sát mặt đất. Và ngày hôm nay SNKRVN. From SNEAKERS, we CONNECT with ASUS để ra mắt một chiến dịch collaboration dành riêng cho Gen Z và xây dựng một giá trị tiếp theo trong hệ sinh thái mà SNKRVN đang phát triển.
 
 Cùng chờ xem dự án độc đáo này vào ngày 03/09/2020 nhé.

#ASUS #Intel #10thGen #vivobook #WowTheWorld #TâmĐiểmKhaiTrường
  • ASUS VIVOBOOK x SNKRVN. 
From SNEAKERS, we CONNECT with ASUS. 

CÔNG NGHỆ - đó là cụm từ liên tục được nhắc đến trong hơn 2 thập kỷ vừa qua với sự phát triển thần tốc & vượt bậc. Nhờ công nghệ, thời trang nói chung và nền văn hoá sneakers nói riêng cũng ngày càng phát triển mạnh hơn. Thông qua mạng xã hội và các nền tảng ứng dụng (apps) để giao dịch, mua bán,... việc tìm hiểu & sở hữu các item thời trang, những đôi sneakers ngày càng trở nên dễ dàng, nhanh chóng. 

CÔNG CỤ mà chúng ta sử dụng để tham gia vào nền văn hoá sneakers trên nền tảng online không gì khác đó chính là những chiếc máy tính. ASUS, hãng công nghệ đến từ Đài Loan, được biết đến rộng rãi nhờ các sản phẩm laptop đột phá, dẫn đầu về công nghệ. Trong đó, dòng VivoBook S của ASUS đã tạo được sự chú ý của giới trẻ trong thời gian gần đây nhờ công nghệ mạnh mẽ, thiết kế hiện đại với những màu sắc cá tính.

Ghi nhận sự tương trợ giữa Công nghệ và Thời trang, lấy cảm hứng từ văn hóa sneakers và các bạn Gen Z trẻ trung, cá tính, SNKRVN đã KẾT NỐI cùng ASUS VIVOBOOK trong chiến dịch “Tâm điểm khai trường. Chọn quà chất tôi” để giới thiệu đến các bạn trẻ yêu mến sneakers & công nghệ bộ sưu tập thời trang giới hạn ASUS VivoBook x SNKRVN. 

�Khám phá sự bất ngờ bởi không dừng lại ở chiếc LAPTOP sở hữu những công nghệ vượt trội mà còn mang trong mình một cá tính, một ngôn ngữ thiết kế dành riêng cho các bạn trẻ có phong cách sống năng động, sáng tạo, sẵn sàng toả sáng để trở thành tâm điểm. Những items thời trang Streetwear cũng song song với đó được giới thiệu trong video này bao gồm: Lanyard, T-Shirt, Mini-Bag, Backpack sẽ giúp bạn trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết. 
�Nền văn hoá sát mặt đất từ nay sẽ có thêm những nhân tố mới để tạo nên sự đa dạng & mang đến những góc nhìn khác biệt hơn. KHÁM PHÁ NGAY CHIẾC PHI THUYỀN #US2020 SẼ HÉ LỘ ĐIỀU GÌ TRONG COLLABORATION LẦN NÀY NHÉ.
�#snkrvn #ASUS #Intel #10thGen #vivobook #WowTheWorld #TâmĐiểmKhaiTrường #FromSNEAKERSweCONNECT
  • SNKRVN. FROM SNEAKERS, WE CONNECT MORE

Hơn 4 năm thành lập, cụm từ KẾT NỐI (CONNECT) luôn được chúng tôi tập trung xây dựng. Cộng đồng sneakers, nền văn hoá sát mặt đất tại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển & ngày càng đa bản sắc bởi sự hợp tác và liên kết của rất nhiều thành viên khác nhau. 

Ngày hôm nay, From SNEAKERS, we CONNECT with ASUS. Một trong những dự án cực kỳ thú vị dành cho Gen Z sẽ ra mắt chính thức trong thời gian tới. 

COMING SOON. 

#ASUS #Intel #10thGen #vivobook #WowTheWorld #TâmĐiểmKhaiTrường
  • Trải nghiệm đôi giày New Balance FreshFoam 880 v10.
Trời ơi, một đôi giày xứng đáng đi tập hằng ngày vì cái công nghệ bộ đệm FreshFoam này. Tuy nhiên nó cũng có vài nhược điểm nhẹ cần khắc phục đây.

Chờ bài review chi tiết nhé các bạn.
Sau 2 tháng sắp xếp lại mọi thứ, come back là pace rùa bò quá điiiiii.
Sẽ trở lại đường đua thiệt sớm nhé ✊🏻
New Balance #snkrvn #newbalanceVietnam